Thứ Tư, 4 tháng 7, 2018

Ông tổ của nghề Kim Hoàn là ai ? Nguồn gốc ở đâu ?

Thợ kim hoàn là ai?

Thợ kim hoàn là người trực tiếp chế tác ra nhiều loại đồ kim hoàn khác nhau như nhẫn, bông tai, lắc tay, dây cổ, mề đay… bằng kim loại quý như vàng, bạc, đồng theo các mẫu thiết kế có sẵn. Họ chuyên gọt dũa, lắp ráp đồ kim loại hoặc chuyên cẩn hột vào món hàng đã được người khác lắp ráp. Một số thợ chỉ chuyên cắt mài, đánh bóng hột đá. Người có tay nghề cao hơn được xã hội tôn vinh là những nghệ nhân. Các nghệ nhân có sức sáng tạo vô biên cùng tay nghề chuẩn mực, họ vừa có thể sáng chế ra những mẫu mã mới, vừa chế tác riêng đáp ứng các yêu cầu đặc biệt từ khách hàng.

Đôi bàn tay khéo léo, đôi mắt đam mê sự hoàn hảo – là kỹ năng vàng đầu tiên cần có của một người thợ kim hoàn bởi họ chính là những người trực tiếp tạo ra sản phẩm trang sức tinh xảo, tạo ra biểu tượng của những vẻ đẹp cao sang nhất. Miệt mài trong cả một dây chuyền để mài giũa chi li, khắc chạm từng đường họa tiết, đánh bóng tỉ mỉ cho một chiếc nhẫn hay cái lắc tay nhỏ, những người thợ phối hợp nhịp nhàng, cần mẫn. Tạo ra một sản phẩm hoàn chỉnh, chính là kết quả của cả một quá trình công phu.

Thợ kim hoàn làm gì?

Khác với những người thợ kim hoàn thời xưa, thợ kim hoàn thời hiện đại gắn công việc của mình với những tiến bộ khoa học kĩ thuật để cho ra đời những sản phẩm tinh tế, hoàn hảo hơn lại tiết kiệm được thời gian và công sức cho chính bản thân mình.

Người làm nghề thợ kim hoàn có những công việc chính sau:

+ Gia công, chế tác các nguyên liệu vàng, bạc, các loại đá thành các chi tiết kim hoàn (sử dụng các công cụ cắt, gọt, chạm…).

+ Sử dụng công nghệ laser, công nghệ CAD-CAM, công nghệ đúc với hột đá, công nghệ cắt gọt với dao kim cương… trong công việc chế tác.

+ Thực hiện ráp, nhám, đánh bóng, hàn các chi tiết của sản phẩm, chạm khắc hoa văn.

+ Sửa chữa sản phẩm hỏng, chỉnh kích cỡ của các đồ trang sức theo yêu cầu của khách hàng.

+ Quan sát, đánh giá bề mặt, cấu trúc của đá quý, giám định chất lượng của các loại trang sức vàng, bạc… từ đó định giá trị và phân loại sản phẩm.

Vàng, bạc, kim cương, ruby, lục bảo… – đó là những vẻ đẹp lấp lánh thô sơ của tự nhiên. Bàn tay của những người thợ kim hoàn đã làm chúng tỏa sáng vẻ đẹp sắc sảo, tinh tế – vẻ đẹp của sự kỳ công, khéo léo, tài năng.

Thợ kim hoàn làm việc ở đâu?


Thợ kim hoàn có thể lựa chọn làm việc tại các xưởng chế tác thuộc công ty đá quý, các cơ sở sản xuất nữ trang hoặc các tiệm vàng bạc, đá quý. Ngoài ra, thợ kim hoàn có thể làm việc tự do tại gia, làm theo các đơn hàng đặt riêng theo yêu cầu của khách hàng.

Người làm nghề kim hoàn đa phần làm việc toàn thời gian. Đôi khi thợ kim hoàn cũng phải làm thêm ngoài giờ để kịp thời gian trao trả sản phẩm cho khách hàng hoặc khi có số lượng đơn đặt hàng lớn.

Ông tổ nghề kim hoàn Việt Nam


Nghề kim hoàn tại Việt Nam được hình thành từ những năm cuối thế kỷ 18, do hai cha con nhà họ Cao là Cao Đình Độ và Cao Đình Hương sáng lập. Sau này cùng được cả giới kim hoàn xưng tụng là ông tổ nghề kim hoàn Việt Nam.

Đệ nhất tổ sư nghề kim hoàn Việt Nam là cụ Cao Đình Độ sinh năm 1744, nguyên quán tại làng Cẩm Tú, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa. Cụ vốn xuất thân từ một gia đình nông dân nhưng từ nhỏ đã có tư chất hơn người và rất hiếu học nên được truyền dạy về Nho giáo. Thuở thiếu thời, cụ theo nghề bịt đồng tức là đi hàn khay hàn ấm chén bị vỡ. Tuy nhiên ước muốn trở thành một thợ kim hoàn chưa bao giờ nguôi ngoai trong cụ.

Vào thời ấy, nước ta do các chúa Nguyễn nắm quyền, giữ trong tay nhiều mỏ vàng bạc đá quý, mà nổi tiếng nhất là mỏ vàng Bồng Miêu ở Quảng Nam. Nhờ đó mà đồ dùng, trang sức trong phủ chúa toàn bằng vàng. Nhưng lúc bấy giờ nghề kim hoàn ở nước ta chưa phát triển, dân ta chưa có thợ kim hoàn lành nghề, nên đồ trang sức của vua chúa quan lại đều phải thuê thợ kim hoàn Trung Quốc chế tác. Những người này chỉ đi theo thuyền buôn sang giao dịch cũng có người xin trú chân lại để hành nghề nhưng tuyệt nhiên rất kín tiếng và dứt khoát không tiết lộ kinh nghiệm cho người dân địa phương về nghề kim hoàn nhằm độc quyền kinh doanh. Chúa Nguyễn Phúc Khoát sớm nhận ra sự lạc hậu của nền thủ công mỹ nghệ nước nhà nên luôn trăn trở, phái người đi thương lượng hợp tác nhiều lần nhưng đều không thu được kết quả.



Bia mộ tưởng nhớ Đệ nhất tổ sư nghề kim hoàn Cao Đình Độ.


Sẵn có niềm đam mê trong huyết quản cộng thêm bối cảnh lúc bấy giờ đã thôi thúc cụ Cao Đình Độ bỏ lại tất cả, lên đường “tầm sư học đạo”. Nhưng đúng là chẳng con đường nào trải đầy hoa hồng, quá trình học nghề của cụ vô cùng gian nan. Cụ nỗ lực học tiếng Hoa, bỏ thời gian quan sát và bắt chước thói quen sinh hoạt để cải trang thành người Hoa, xin vào giúp việc cho một chủ tiệm vàng ở Thăng Long (Hà Nội). Bởi chỉ có người Hoa mới có bí quyết chế tác, sản xuất và độc quyền kinh doanh vàng bạc.


Với vốn kiến thức Nho học phong phú được tích lũy từ nhỏ lại thêm đức tính cần cù, ham học hỏi và lòng trung thực nên cụ được ông chủ người Hoa tín nhiệm, quý mến và quyết định truyền nghề. Với quyết tâm đã học là phải thành tài, cụ còn tìm tòi cả cách chế tạo các loại dụng cụ cần thiết phục vụ cho công việc chế tác. Theo thời gian, tay nghề của cụ ngày càng điêu luyện và đạt tới trình độ kỹ thuật không thua kém bất kỳ người Hoa nào trên đất Thăng long lúc bấy giờ. Năm 1783, họ Trịnh chiếm đóng Phú Xuân, đường vào Thuận Hóa thông suốt, cụ đưa vợ con vào Nam lập nghiệp và dừng chân tại làng Kế Môn, huyện Phong Điền, Thừa Thiên Huế bây giờ. Chính tại đây, cụ bắt đầu truyền nghề cho con trai là Cao Đình Hương. Người ta nói hổ phụ sinh hổ tử quả không sai, Cao Đình Hương thừa hưởng trọn vẹn trí tuệ và những đức tính hơn người của cha nên cũng rất nhanh chóng trở thành một thợ kim hoàn nổi danh khắp vùng Thuận Hóa. Về sau cụ Cao Đình Độ còn truyền nghề cho một số học trò thuộc gia tộc họ Huỳnh Công Và Trân Mạnh. Hai họ này lại tiếp túc cha truyền con nối đời này qua đời khác biến làng Kế Môn thành làng nghề kim hoàn sầm uất bậc nhất ở Đàng Trong.




Bia mộ tưởng nhớ Đệ nhị tổ sư nghề kim hoàn Cao Đình Hương.


Dười thời vua Quang Trung cai trị nhà Tây Sơn, triều đình rất chú trọng phát triển thủ công nghiệp nên đã lập ra ngành Ngân Tượng. Danh tiếng của cụ Cao Đình Độ nhanh chóng truyền đến tai vua, năm 1970 vua Quang Trung cho triệu kiến hai cha con cụ cùng một số thợ kim hoàn tinh thông tại Kế Môn để lập đội Cơ vệ Ngân tượng. Cơ quan được miêu tả là để nghiên cứu chuyên sâu về nghệ thuật điêu khắc, chạm trổ chế tác trang sức và vàng bạc. Cụ đã dốc hết tâm huyết và có những cống hiến to lớn cho triều đình nên được sắc phong đến chức Lãnh binh, con trai Cao Đình Hương là phó Lãnh binh.

Năm 1802, Nguyễn Ánh chiếm lại Thuận Hóa - Phú Xuân, lên ngôi vua và lấy niên hiệu là Gia Long chính thức lập nên vương triều nhà Nguyễn. Tất cả các thành tựu văn hóa dưới triều Tây Sơn đều bị phá bỏ, chỉ duy nhất ngành Ngân tượng được giữ lại. Cụ Cao Đình Độ và các cộng sự cũ tiếp tục duy trì nghề kim hoàn trong cung, hưởng bổng lộc của vua và giữ nguyên tước vị.


Năm 1810, cụ Cao Đình Độ qua đời ở tuổi 66 trong niềm tiếc thương vô hạn của cả triều đình và gia quyến. Vua Gia Long ban lệnh truy tặng tước hiệu “ Đệ nhất tổ sư”, tổ chức tang lễ long trọng chu tất và cấp đất xây lăng như các hoàng thân quốc thích. Con trai cụ là Cao Đình Hương không muốn tâm huyết cả đời của cha bị thất truyền nên đã xin vua từ quan, lui về ở ẩn nhằm tìm người nối nghiệp kim hoàn. Từ đây, nghề kim hoàn ở miền Trung mới bắt đầu nở rộ và được nhân rộng.

Khâm phục tài nghệ và nhân cách của Cao Đình Hương, quan Thượng thư bộ Lại cùng phu nhân là Huỳnh Thị Ngọc đã mời ông về đích thân truyền nghề cho ba người con trai là Trần Hòa, Trần Điện và Trần Điền cùng ba người cháu: Huỳnh Quang, Hùng Bảo, Huỳnh Nhật. Năm 1821, sau 11 năm thầy trò gắn bó, ông Cao Đình Hương qua đời, được vua Minh Mạng phong tước hiệu “Đệ nhị tổ sư” và đưa về an nghỉ cạnh phần mộ của cha ở Trường Cởi. Trước khi nhắm mắt ông chăng chối lại rằng muốn các đệ tử đem nghề kim hoàn truyền bá rộng rãi trong dân gian. Vâng lời thầy, ba anh em nhà họ Trần khăn gói ra Thăng Long an cư và thu nhận đệ tử. Còn anh em nhà họ Huỳnh lại lên đường vào Nam lập nghiệp, nhưng đến Phan Thiết thì một người không may qua đời, hai người còn lại quyết định dừng chân mở lò dạy nghề. Đánh dấu sự ra đời của nghề kim hoàn tại Phan Thiết. Sau này, khi hay tin anh em nhà họ họ Huỳnh ở Phan Thiết thì ba anh em nhà họ Trần cũng xuôi vào Nam tìm và cuối cùng ở lại Gia Định - Chợ Lớn nơi thương cảng sầm uất để mở lò thợ bạc, truyền nghề khắp lục tỉnh Nam Kỳ. Tại Chợ Lớn vì quá thương nhớ sư phụ cùng các đồng môn mà anh em nhà họ Trần đã lập lên “Lệ Châu Hội Quán” làm đền thờ với hàm ý thương nhớ mà rơi lệ. Có thể nói, hai cụ Cao Đình Độ và Cao Đình Hương có công khai sáng thì các anh em nhà họ Huỳnh và họ Trần có công truyền bá nghề kim hoàn dọc khắp đất nước, từ Bắc vào Nam. Nên người đời cũng xưng tụng họ là tổ sư đời thứ hai.




Lệ Châu Hội Quán tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.


Gần 100 năm sau ngày mất của cha con họ Cao, năm 1924 thời vua Khải Định thứ 9, nhân dịp Tứ tuần Khánh Tiết xét thất công lao to lớn của hai vị sư tổ trong việc khai sáng và truyền bá nghề kim hoàn tại Việt Nam nên vua đã hạ chiếu sắc phong “Dực bảo Trung Hưng Linh Phò Chi Thần”. Năm 1938, vua Bảo Đại thứ 13 lại tiếp tục sắc phong tước vị một lần nữa và ban lệnh trùng tu lại khu lăng mộ tại Trưởng Cởi nay là Trường An (Huế).




Sắc phong Tổ sư của vua Khải Định thứ 9.

Khu lăng mộ tổ nghề kim hoàn Việt Nam


Khu lăng mộ tổ nghề kim hoàn Việt Nam hiện này nằm trên đường Phan Bội Châu, tại phường Trường Anh thành phố Huế, mang giá trị lịch sử và kiến trúc to lớn. Nhìn từ cổng chính vào, thì lăng mộ Đệ nhất Tổ sư Cao Đình Độ nằm bên bên trái, lăng mộ Đệ nhị Tổ sư Cao Đình Hương nằm bên phải, hai ngôi cách nhau 100m. Các nghệ nhân đã gắn rất nhiều câu đối bằng chữ Nho từ ngoài cổng vào đến lăng, bên cạnh đó là các kiến trúc hoa văn đặc trưng của triều Nguyễn, và tất nhiên không thể thiếu nhiều chi tiết chạm trổ công phu từ sành sứ thủy tinh.



Cồng vào khu lăng mộ Tổ sư nghề kim hoàn Việt Nam tại Huế.

Hàng năm, các thợ kim hoàn khắp nơi trên cả nước đều tổ chức làm lễ giỗ Tổ rất linh đình để tưởng nhớ công lao của các sư tổ. Tại miền Trung, làm lễ giỗ Tổ cụ Cao Đình Độ vào 27-2 âm lịch là ngày mất của cụ. Miền Bắc làm lễ giỗ Tổ sư họ Trần tại làng nghề kim hoàn Định Công. Còn miền Nam làm lễ giỗ Tổ sư họ Huỳnh tại Phan Thiết. Uống nước nhớ nguồn là nét đẹp văn hóa của người Việt dù hiện nay trang sức được sản xuất trên dây chuyền công nghệ hiện đại.






Hình ảnh giỗ Tổ nghề kim hoàn trên cả nước.